MỚI Đẩy Mạnh Hội Nhập Quốc Tế Là Gì ? Tại Sao Chúng Ta Cần Phải Hội Nhập Quốc Tế?

Xin chào đọc giả. Hôm nay, mình xin góp chút kinh nghiệm cá nhân về Đẩy Mạnh Hội Nhập Quốc Tế Là Gì ? Tại Sao Chúng Ta Cần Phải Hội Nhập Quốc Tế? qua bài chia sẽ Đẩy Mạnh Hội Nhập Quốc Tế Là Gì ? Tại Sao Chúng Ta Cần Phải Hội Nhập Quốc Tế?

Đa phần nguồn đều được update thông tin từ các nguồn trang web lớn khác nên có thể vài phần khó hiểu.

Mong mọi người thông cảm, xin nhận góp ý & gạch đá bên dưới comment

[su_box title=”Khuyến nghị:” style=”default” box_color=”#3be863″ title_color=”#FFFFFF” radius=”3″]

Xin quý khách đọc bài viết này ở nơi không có tiếng ồn cá nhân để đạt hiệu quả tốt nhất
Tránh xa tất cả những thiết bị gây xao nhoãng trong công việc tập kết
Bookmark lại nội dung bài viết vì mình sẽ cập nhật hàng tháng

[/su_box]

Hội nhập quốc tế là gì là một trong những keyword được search nhiều nhất trên Google về chủ đề hội nhập quốc tế là gì.

Bạn đang xem: Hội nhập quốc tế là gì

Trong bài viết này, honamphoto.com sẽ viết bài viết Hội nhập quốc tế là gì? Tại sao chúng ta cần phải hội nhập quốc tế?

*

Hội nhập quốc tế là một quá trình tăng trưởng tất yếu, do bản chất thế giới của lao động và gắn kết giữa con người. Sự ra đời và phát triển của kinh tế đối tượng cũng là động lực hàng đầu xúc tiến tiến trình hội nhập. Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức, mức độ và trên nhiều ngành không giống nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao. Hội nhập vừa mới trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng đất nước. bây giờ, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển.

Những năm Hiện nay, hội nhập quốc tế đang trở thành ngôn từ khá thân quen với hầu hết người VN. Trong công sở, nhà trường, ở quán nước trên hè phố, thậm chí cả ở thôn quê, người ta đều sử dụng nó một hướng dẫn rất thông dụng. tuy vậy, nhưng không phải ai cũng thực sự hiểu khái niệm này; đặc biệt, hiểu nó một mẹo đa số và ngọn nghành thì chẳng có mấy người. Giới học thuật và những nhà hoạch định chính sách cũng còn hiểu rất không giống nhau và vẫn thường xuyên tranh biện về nhiều góc cạnh của hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh nước ta vừa mới “tích cực, chủ động hội nhập quốc tế” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI vừa qua, việc định hình đúng ý nghĩa, bản chất, nội hàm, thiên hướng vận động cũng như hệ lụy của hội nhập quốc tế là rất quan trọng và có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập chiến lược, chính sách và các biện pháp cụ thể của nước ta trong quá trình hội nhập.

Để đóng góp vào cuộc trao đổi nói trên, post này đề cập một số góc cạnh về lý luận và thực tế của định nghĩa hội nhập quốc tế, tập kết vào vấn đề khái niệm và xác định bản chất, nội hàm, các hình thức và thuộc tính của hội nhập quốc tế; phân tích tính tất yếu và hệ lụy của hội nhập quốc tế giống như là một xu thế to của thế giới hiện đại.

1. khái niệm định nghĩa hội nhập quốc tế

Thuật ngữ “hội nhập quốc” tế trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng nước ngoài (tiếng Anh là “international integration”, tiếng Pháp là “intégration internationale”). Đây là một khái niệm được sử dụng chủ yếu trong các ngành chính trị học quốc tế và kinh tế quốc tế, ra đời từ khoảng giữa thế kỷ trước ở châu Âu, trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương xúc tiến sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức-Pháp) nhằm tránh rủi ro tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng châu Âu.

Trên thực tiễn hiện giờ, có nhiều phương pháp hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm “hội nhập quốc tế”. Tựu chung, có ba phương pháp tiếp cận chủ yếu sau:

phương pháp tiếp cận thứ nhất, thuộc về trường phái theo chủ nghĩa liên bang, cho rằng hội nhập (integration) là một hàng hóa cuối cùng hơn là một tiến trình. món hàng đó là sự tạo dựng một Nhà nước liên bang kiểu như Hoa Kỳ hay Thụy Sỹ. Để phân tích sự link, những người theo trường phái này chú ý chủ yếu tới các khía cạnh luật định và thể chế.

cách tiếp cận thứ hai, với Karl W. Deutsch là trụ cột, nhìn thấy hội nhập trước tiên là sự liên kết các quốc gia thông qua tăng trưởng các luồng giao lưu như thương mại, đầu tư, thư tín, thông tin, du lịch, di trú, văn hóa… từ đó hình thành dần các cộng đồng an ninh (security community). Theo Deutsch, có hai loại cộng đồng an ninh: loại cộng đồng an ninh hợp nhất giống như kiểu Hoa Kỳ, và loại cộng đồng an ninh đa nguyên giống như kiểu Tây Âu. như vậy, hướng dẫn tiếp cận thứ hai này xem xét hội nhập vừa là một công cuộc vừa là một món hàng cuối cùng.

phương pháp tiếp cận thứ ba nhìn thấy xét hội nhập dưới góc độ là hiện tượng/hành vi các nước mở rộng và sử dụng sâu sắc hóa liên kết hợp tác với nhau trên cơ sở phân công lao động quốc tế có chủ đích, dựa vào lợi thế của mỗi nước và mục đích theo đuổi.

phương pháp tiếp cận thứ nhất có nhiều giới hạn vì nó k đặt hiện tượng hội nhập trong tiến trình phát triển mà chỉ Nhìn nhận hiện tượng này (chủ yếu về khía cạnh luật định và thể chế) trong trạng thái tĩnh cuối cùng gắn với mô hình Nhà nước liên bang. cách tiếp cận này khó áp dụng để nghiên cứu và giải thích thực tế của quá trình hội nhập diễn ra với nhiều thể loại và mức độ khác nhau như hiện tại trên toàn cầu. không phải bất cứ sự hội nhập nào cũng kéo đến một Nhà nước liên bang. cách tiếp cận thứ hai có điểm hay là Quan sát nhận hiện tượng hội nhập vừa trong quá trình lớn mạnh vừa trong tình trạng tĩnh cuối cùng, song song mang ra được những nội dung khá cụ thể và sát thực tế của công cuộc hội nhập, góp phần phân tích và cho biết nhiều vấn đề của hiện tượng này. phương pháp tiếp cận thứ ba tập hợp vào hành vi của hiện tượng, k để ý nhìn thấy xét góc độ thể chế cũng như kết quả cuối cùng của hội nhập, thành ra, thiếu tính toàn diện và hạn chế trong mức độ lý giải bản chất của tiến trình hội nhập.

Ở VN, thuật ngữ ‘hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu được sử dụng từ khoảng giữa thập niên 1990 cùng với công cuộc Việt Nam tham gia ASEAN, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc tế không giống. Những năm gần đây, cụm từ “hội nhập quốc tế” (thậm chí nói ngắn gọn là “hội nhập”) được sử dụng ngày càng phổ biến hơn và với hàm nghĩa rộng hơn hội nhập kinh tế quốc tế. Có một thực tiễn đáng note là trước khi thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế” được đưa vào sử dụng, trong tiếng Việt vừa mới xuất hiện các cụm từ “liên kết kinh tế quốc tế”  “nhất thể hóa kinh tế quốc tế”. Cả ba thuật ngữ này thực ra được sử dụng để chỉ cùng một định nghĩa mà tiếng Anh gọi là “international economic integration”. Sự khác biệt giữa chúng chủ yếu là hướng dẫn sử dụng với hàm ý chính trị và lịch sử khác nhau. Thuật ngữ “nhất thể hóa kinh tế quốc tế được dùng chủ yếu trong bối cảnh cộng tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV) những năm 1970-1980.

Thuật ngữ “liên kết kinh tế quốc tế được sử dụng khá nhiều khi nói về hiện tượng tăng trưởng các gắn kết kinh tế trên cơ sở tự do hóa mậu dịch giữa các nước chẳng phải là thế giới chủ nghĩa trong những thập niên sau Chiến tranh toàn cầu II, đặc biệt là trong khuôn khổ các đơn vị kinh tế khu vực như Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EC), Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), đối tượng chung Trung Mỹ (CACM), Cộng đồng Caribê và phân khúc chung (CARICOM), Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), v.v… Trong thực tế sử dụng ở Viet Nam cho đến nay, các thuật ngữ “liên kết quốc tế”  “hội nhập quốc tế đủ nội lực thay thế nhau và gần như k có sự không giống biệt về ý nghĩa.

HOT  NEW Hỏi Về Proof Of Address Là Gì ? Bằng Chứng Cư Trú Là Gì

Mặc dầu vậy, hiện tại vẫn không có một khái niệm nào về định nghĩa “hội nhập quốc tế” giành được sự tán đồng hoàn toàn trong giới học thuật và cả giới sử dụng chính sách ở VN. Từ các khái niệm khác nhau nổi lên hai phương pháp hiểu chính. Thứ nhất, phương pháp hiểu hẹp coi “hội nhập quốc tế” là sự tham gia vào các đơn vị quốc tế và khu vực. Thứ hai, cách hiểu rộng, coi “hội nhập quốc tế” là sự xây dựng cửa và tham gia vào mọi mặt của đời sống quốc tế, đối lập với trạng thái phá sản, cô lập hoặc ít giao lưu quốc tế. Với tìm hiểu theo phương pháp này, không ít người thậm chí đang đánh đồng hội nhập với cộng tác quốc tế. Cả hai hướng dẫn hiểu trên về khái niệm “hội nhập quốc tế” đều không đa số và thiếu chuẩn xác.

Từ luận và thực tế nêu trên, chúng ta cần xác định một hướng dẫn tiếp cận phù hợp so với định nghĩa “hội nhập quốc tế” để làm hệ thống xây dựng kế hoạch hội nhập quốc tế của VN trong giai đoạn mới. Chúng tôi cho rằng cách tiếp cận phù hợp nhất là nhìn thấy xét hội nhập như là một tiến trình xã hội có nội hàm toàn diện và liên tục vận động hướng tới mục tiêu nhất định. Theo đó, hội nhập quốc tế được hiểu như là công cuộc các nước tiến hành các hoạt động gia tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự share về lợi ích, mục đích, trị giá, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc đơn vị quốc tế. giống như vậy, khác với hợp tác quốc tế (hành vi các chủ thể quốc tế đáp ứng quyền lợi hay nguyện vọng của nhau, k chống đối nhau), hội nhập quốc tế vượt lên trên sự hợp tác quốc tế thông thường: nó đòi hỏi sự share và tính kỷ luật cao của các chủ thể tham gia. Nhìn ở góc độ thể chế, tiến trình hội nhập hình thành nên và củng cố các định chế/tổ chức quốc tế, thậm chí là các chủ thế mới của liên kết quốc tế. Những chủ thể quốc tế mới này đủ nội lực dưới dạng: (i) hoặc là một đơn vị liên chính phủ (các thành viên luôn luôn giữ chủ quyền quốc gia trong việc định đoạt chính sách, chẳng hạn như tổ chức Liên hiệp quốc, ASEAN…), (ii) hoặc là một đơn vị siêu quốc gia (các member trao toàn bộ chủ quyền quốc gia cho một cơ cấu siêu quốc gia, ảnh thái này đủ nội lực giống như mô ảnh nhà nước liên bang, chẳng hạn như Hoa Kỳ, Canada…), (iii) hoặc là một tổ chức lai ghép giữa hai ảnh thái trên (các member trao một phần chủ quyền đất nước cho một cơ cấu siêu đất nước và vẫn giữ một phần chủ quyền cho riêng mình, chẳng hạn như trường hợp EU hiện nay).

Chủ thể của hội nhập quốc tế trước hết là các đất nước, chủ thể chính của liên kết quốc tế có đủ thẩm quyền và năng lực đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế. Bên cạnh chủ thể chính này, các chủ thể khác cùng hợp thành lực lượng tổng hợp tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế.

2. Nội hàm của hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế đủ sức diễn ra trên từng ngành nghề của đời sống thế giới (kinh tế, chính trị, an ninh-quốc phòng, kiến thức, giáo dục, thế giới, v.v.), nhưng cũng đủ nội lực đồng thời diễn ra trên nhiều ngành với tính chất (tức là mức độ gắn kết), phạm vi (gồm địa lý, lĩnh vực/ngành) và thể loại (song phương, đa phương, khu vực, liên khu vực, toàn cầu) rất khác nhau.

a) Hội nhập kinh tế quốc tế

Đây là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và thế giới. Hội nhập kinh tế đủ sức diễn ra theo nhiều mức độ. Theo một số nhà kinh tế, quá trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô ảnh cơ bản từ thấp đến cao như sau:

(i) Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành cho nhau các khuyến mãi thương mại trên cơ sở tiết kiệm thuế quan, nhưng còn hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và cấp độ tiết kiệm. Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các gợi ý cụ thể của mô ảnh link kinh tế ở công đoạn thấp nhất.

(ii) Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc tiết kiệm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại món hàng nội khối, nhưng luôn luôn duy trì chính sách thuế quan độc lập so với các nước ngoài khối. Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Những năm Hiện nay, phần đông các hiệp định FTA mới có phạm vi ngành nghề điều tiết rộng hơn nhiều. Ngoài ngành nghề sản phẩm, các hiệp định này còn có những quy định tự do hóa so với nhiều lĩnh vực khác giống như dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ… Ví dụ: Hiệp định FTA giữa ASEAN với Úc-Niudilân (2009), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP- vừa mới đàm phán).

(iii) Liên minh thuế quan (CU): Các member ngoài việc tiết kiệm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung so với các nước bên ngoài khối. Ví dụ: nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan.

(iv) phân khúc chung (hay đối tượng duy nhất): Ngoài việc loại bỏ thuế quan và hàng rào phi quan thuế trong thương mại nội khối và có chính sách thuế quan chung so với ngoài khối, các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế so với việc lưu chuyển của các nguyên nhân sản xuất khác (vốn, lao động…) để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối. Ví dụ: Liên minh châu Âu đã trải qua giai đoạn thiết lập đối tượng duy nhất (Thị trường chung châu Âu) trước khi trở thành một liên minh kinh tế.

(v) Liên minh kinh tế-tiền tệ: Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhất dựa trên cơ sở một đối tượng chung/duy nhất cộng thêm với việc thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất của khối). Ví dụ: EU cho đến nay.

Một nước có thể song song tham gia vào nhiều quá trình hội nhập với tính chất, phạm vi và thể loại khác nhau. tuy nhiên, về cơ bản phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy công đoạn chỉ đủ nội lực diễn ra trong những điều kiện đặc thù nhất định mà thôi (chẳng hạn Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã song song thực hiện thiết lập khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan trong những thập niên 60-70). Hội nhập kinh tế là nền móng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội buôn về chính trị và Quan sát chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy như một đòn bẩy cho hợp tác và tăng trưởng trong bối cảnh thế giới hóa.

b) Hội nhập chính trị

Hội nhập về chính trị là tiến trình các nước tham dự vào các cơ chế quyền lực tập thể (giữa hai hay nhiều nước) nhằm theo đuổi những mục tiêu nhất định và hành xử phù hợp với các luật chơi chung. Hội nhập chính trị thể hiện cấp độ liên kết đặc biệt giữa các nước, trong đó họ chia sẻ với nhau về các giá trị cơ bản (tư tưởng chính trị, ý thức hệ), mục tiêu, lợi ích, gốc lực và đặc biệt là quyền lực. Một đất nước có thể tiến hành hội nhập chính trị quốc tế thông qua ký hiệp ước với một hay một số quốc gia không giống trên cơ sở xây dựng các mối quan hệ quyền lực giữa họ (hiệp ước liên minh hay đồng minh) hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị khu vực (chẳng hạn như ASEAN, EU) hay một đơn vị có quy mô thế giới (chẳng hạn giống như Liên Hiệp quốc).

Ở giai đoạn thấp của hội nhập chính trị, link giữa các thành viên còn hạn chế và các thành viên vẫn cơ bản giữ thẩm quyền định đoạt chính sách riêng. ASEAN hiện tại vẫn đang trong công đoạn đầu quá trình hội nhập chính trị, nên luôn luôn còn tồn tại nhiều sự khác biệt và độ tin cậy giữa các member còn hạn chế. Về mặt tổ chức quyền lực, ASEAN là một khuôn khổ liên chính phủ. Hoàn tất thiết lập Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột (Cộng đồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội) sẽ làm gia tăng cường quá trình hội nhập chính trị trong ASEAN, tạo điều kiện để ASEAN bước tới một giai đoạn hội nhập cao hơn nữa.

Xem thêm: Hệ Thống Kiến Thức Chương Dòng Điện Trong Kim Loại Là Gì ? Đặc Điểm Và Tác Dụng

HOT  MỚI Mệnh Kim Và Mộc Có Hợp Nhau Không?

giai đoạn hội nhập chính trị cao đòi hỏi sự tương đồng về thể chế chính trị và độ tin cậy hoàn toàn của các member. Về mặt tổ chức quyền lực, các thành viên chỉ giữ lại một số thẩm quyền nhất định ở cấp quốc gia và trao các quyền lực còn lại cho một cơ cấu siêu đất nước. EU bây giờ là một mô ảnh hội nhập chính trị cao.

Thông thường hội nhập chính trị là bước đi sau cùng trên cơ sở các nước liên quan đang đạt đến trình độ hội nhập kinh tế và văn hóa-xã hội rất cao. Sự tạo dựng Liên bang Hoa Kỳ, Liên bang Canađa trước đó và EU hiện nay cơ bản theo công thức này. ngoài ra, trong những bối cảnh nhất định, hội nhập trong ngành nghề chính trị đủ sức tiên phong một bước để mở đường thúc đẩy hội nhập trong các lĩnh vực không giống. Trường hợp ASEAN thể hiện khá đặc biệt sự kết hợp nhiều tiến trình hội nhập. Trong suốt hơn 2 thập kỷ đầu tồn tại, ASEAN chủ yếu là một cơ chế hợp tác khu vực về chính trị-ngoại giao nhằm đối phó với những thách thức đối với an ninh quốc gia của các thành viên. Một số học giả Nhìn nhận ASEAN giống như là một định chế/chế độ quốc tế (international regime) về chính trị-an ninh ở khu vực Đông Nam Á. Nói một cách không giống, đây là dạng thức ban đầu của hội nhập chính trị-an ninh. Sau giai đoạn bắt đầu chủ yếu bằng hội nhập sơ khai về chính trị-an ninh, từ cuối thập niên 1970 trở đi, ASEAN mới bắt đầu khai triển cộng tác về kinh tế và chỉ từ gần giữa thập niên 1990, ASEAN mới thực sự khởi đầu công cuộc hội nhập kinh tế. Hội nhập văn hóa-xã hội phải đợi đến khi ASEAN thông qua Hiến chương năm 2008 mới được triển khai.

c) Hội nhập an ninh-quốc phòng

Hội buôn về an ninh-quốc phòng là sự tham dự của đất nước vào tiến trình quan hệ họ với các nước khác trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh. Điều này đòi hỏi các nước hội nhập phải tham dự vào các thỏa thuận song phương hay đa phương về an ninh-quốc phòng trên cơ sở các nguyên tắc share và liên kết: mục tiêu chung, đối tượng/kẻ thù chung, tiến hành các hoạt động chung về đảm bảo an ninh-quốc phòng…

Có nhiều kiểu liên kết an ninh-quốc phòng không giống nhau, trong đó nổi lên những thể loại chủ yếu được nhiều nước sử dụng giống như sau:

– Hiệp ước phòng thủ chung: Đây là thể loại khá thông dụng trong thời kỳ Chiến tranh lạnh khi mà toàn cầu được cơ bản chia thành hai hệ thống (gọi là hệ thống hai cực) giữa một bên là các nước thế giới chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo và bên kia là các nước tư bản chủ nghĩa do Mỹ giỏi nhất. Hàng loạt tổ chức phòng thủ chung đã được hai phe lập ra để thực hiện các mục tiêu chính trị và an ninh-quốc phòng, chẳng hạn như đơn vị Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), tổ chức Hiệp ước Trung tâm (CENTO), tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO), Hiệp ước Liên minh Úc-Niudilân-Mỹ (ANZUS), tổ chức Hiệp ước Vác-xô-vi. nguyên tắc của các đơn vị phòng thủ chung là: (i) các nước tham dự phải có chung kẻ thù bên ngoài, khi một nước nào đó tấn công một thành viên của khối thì nước đó được coi là kẻ thù của cả khối và toàn bộ các member cùng hành động chống lại kẻ thù đó; (ii) các thành viên có chính sách phòng thủ chung; (iii) các member cùng đóng góp lực lượng vũ trang tham dự vào lực lượng chung của khối đặt dưới một bộ chỉ huy chung.

Đây là bí quyết liên kết quân sự rất cao, đòi hỏi các member phải đồng về suy nghĩ hệ và cùng chia sẻ cao về ý kiến, chính sách an ninh-quốc phòng, kế hoạch quân sự và có trình độ tăng trưởng kỹ thuật quân sự cũng như năng lực tác chiến không quá chênh lệch. phương thức link này cũng đòi hỏi các member phải chấp nhận chịu sự giới hạn về chủ quyền quốc gia và trao một phần thẩm quyền đất nước cho một cơ chế chung siêu đất nước.

– Hiệp ước liên minh quân sự song phương: Đây là thể loại cổ điển rất thông dụng trong lịch sử quan hệ quốc tế xưa và nay. phần đông, nếu như không nói là hầu hết, các nước đều có hiệp ước liên minh với một hoặc một số nước khác, trong đó có quy định về giúp đỡ quân sự trong những tình huống cần thiết. Mỹ có hiệp ước liên minh quân sự song phương với Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Philipin. Việt Nam cũng vừa mới có Hiệp ước liên minh với Liên Xô cũ, Lào và Cămpuchia.

– Các dàn xếp an ninh tập thể: Đây là hình thức link an ninh dựa trên nguyên tắc các thành viên cam kết k tấn công nhau, nếu có một thành viên vi phạm, sẽ dùng sức mạnh hợp tác của cả khối để ngăn chặn và giúp giải quyết xung đột. Hội quốc liên và sau này là Liên Hiệp quốc, Liên đoàn Ả-rập, tổ chức thống nhất châu Mỹ (OAS), tổ chức Thống nhất châu phi (AU), Cộng đồng chính trị-an ninh mà ASEAN đã xây dựng là những mô ảnh cụ thể của bí quyết link an ninh tập thể.

– Các dàn xếp về an ninh cộng tác là cách thức liên kết an ninh-quốc phòng lỏng lẻo hơn cả, dựa trên quy tắc quét cộng tác trên các ngành, từ dễ đến khó, với các thể loại phổ biến như đối thoại, thiết lập lòng tin, ngoại giao phòng ngừa… để thiết lập thói quen cộng tác và sự lệ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, từ đó đủ nội lực hạn chế mức độ xảy ra xung đột giữa các member. ASEAN và một loạt cơ chế khu vực liên quan như Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao (PMC), forum Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị cấo cao Đông Á (EAS)… là những mô ảnh cụ thể về dạng thức liên kết này.

Quan sát chung, hội nhập trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng là quá trình khó khăn hơn cả, vì nó liên quan trực tiếp tới những chủ đề nhạy cảm nhất- cốt lõi tồn tại của quốc gia, đó là hòa bình, độc lập và chủ quyền.

d) Hội lấy về văn hóa-xã hội

Hội lấy về văn hóa-xã hội là tiến trình xây dựng cửa, đàm luận kiến thức với các nước khác; share các giá trị kiến thức, tinh thần với thế giới; tiếp thụ các trị giá văn hóa tiến bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền văn hóa dân tộc; tham dự vào các đơn vị hợp tác và tăng trưởng văn hóa-giáo dục và không gian khu vực và cộng tác chặt chẽ với các nước member hướng tới thiết lập một cộng đồng văn hóa-xã hội rộng to hơn trên phạm vi khu vực và toàn cầu (ví dụ, tham dự Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN, UNESCO…); ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về hợp tác-phát triển văn hóa-giáo dục-xã hội với các nước.

Hội nhập văn hóa-xã hội có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm sâu sắc công cuộc hội nhập, thực sự liên kết các nước với nhau bằng chất keo bền vững hơn cả. quá trình này giúp các dân tộc ở các quốc gia không giống nhau ngày càng gần gũi và share với nhau nhiều hơn về các giá trị, công thức tư duy và hành động; xây dựng sự hài hòa và thống nhất ngày càng cao hơn giữa các chính sách không gian của các nước thành viên; đồng thời tạo điều kiện để người dân mỗi nước được thụ hưởng tốt hơn các giá trị kiến thức của nhân loại, các phúc lợi xã hội đa dạng; đặc biệt, tạo dựng và củng cố tình cảm gắn bó thuộc về một cộng đồng chung rộng lớn hơn quốc gia của riêng mình (ý thức công dân khu vực/toàn cầu).

3. Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của niên đại bây giờ

Hội nhập quốc tế là một công cuộc tất yếu, do bản chất không gian của lao động và gắn kết giữa con người. Các cá nhân mong muốn tồn tại và tăng trưởng cần có liên kết và link với nhau tạo thành cộng đồng. Nhiều cộng đồng link với nhau tạo thành xã hội và các quốc gia-dân tộc. Các đất nước lại liên kết với nhau tạo thành những thực thể quốc tế to hơn và tạo dựng nền móng toàn cầu.

Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải xây dựng rộng các phân khúc quốc gia, tạo dựng đối tượng khu vực và quốc tế thống nhất. Đây là động lực chủ yếu xúc tiến công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung.

Từ sau Chiến tranh toàn cầu II, đặc biệt là kể từ chấm dứt Chiến tranh lạnh, cùng với thành đạt mạnh mẽ của lực lượng sản xuất thế giới nhờ hàng loạt tiến bộ khẩn trương về khoa học-công nghệ, xu thế hòa bình-hợp tác, cố gắng tự do hóa-mở cửa của các nước đang thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế trên nhiều ngành, đặc biệt là trong kinh tế, tăng trưởng rất mau và trở thành một xu thế to của liên kết quốc tế hiện đại. quá trình này diễn ra trên nhiều cấp độ: song phương, đa phương, tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và thế giới. mức độ hội nhập cũng ngày một sâu sắc hơn, bao quát toàn diện hơn. Hầu hết mọi nước trên thế giới đang và đang tích cực tham gia vào công cuộc này.

HOT  MỚI Những sang chấn tâm lý ở trẻ khi chứng kiến bố mẹ cãi nhau

Trên cấp độ thế giới, ngay sau Chiến tranh thế giới II, Liên hiệp quốc và hàng loạt các tổ chức chuyên môn của Liên hiệp quốc, trong đó gồm nhiều thiết chế thuộc nền tảng Bretton Woods (đặc biệt là Quỹ Tiền tệ quốc tế và bank Thế giới), ra đời với số lượng thành viên tham gia ngày một nhiều hơn, bao quát hầu hết các nước trên toàn cầu. Đây là một tổ chức hợp tác toàn diện, bao quát hầu hết mọi lĩnh vực và có quy mô toàn cầu. Trong một số ngành nghề, Liên hiệp quốc đang có thành công vượt lên trên sự cộng tác thông thường và đủ nội lực nói vừa mới đạt đến trình độ ban đầu của hội nhập (lĩnh vực chính trị-an ninh, ngành nghề nhân quyền, ngành nghề tài chính). Trong ngành nghề thương mại, tiến trình hội nhập toàn cầu được xúc tiến với việc ra đời của một định chế đa phương đặc biệt quan trọng, đó Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), sau đó được tiếp nối bằng tổ chức Thương mại thế giới (WTO) tính từ lúc năm 1995. ngày nay, 153 đất nước và vùng lãnh thổ đang tham gia với nhân cách thành viên chính thức của tổ chức này, khoảng 30 quốc gia khác vừa mới trong tiến trình đàm phán tham gia. Trong hơn một thập kỷ qua, WTO vừa mới tăng trưởng mạnh mẽ nền tảng “luật chơi” về thương mại quốc tế, bao quát hầu hết các ngành nghề của quan hệ kinh tế giữa các member giống như sản phẩm, dich vụ, nông nghiệp, kiểm dịch động thực vật, dệt may, hàng rào kỹ thuật, đầu tư, sở hữu trí tuệ, chống bán phá giá, trợ cấp và các biện pháp đối kháng, các biện pháp tự vệ, dựng lại trị giá tính thuế hải quan, giám định sản phẩm, quy tắc xuất xứ, quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp… Các quy định cơ bản của WTO trở thành nền tảng của toàn bộ các thỏa thuận kinh tế khu vực hay song phương trên thế giới ngày nay. Vòng đàm phán Đô-ha, bắt đầu từ hơn mười năm trước, đã liên tục mở rộng và củng cố các quy định của WTO theo hướng tự do hóa hơn nữa.

Ở mức độ khu vực, quá trình hội nhập tăng trưởng rất nhanh trong những thập niên 1960 và 1970, đặc biệt “nở rộ” từ thập niên 1990 trở lại đây. Hàng loạt tổ chức/thể chế khu vực đang ra đời ở khắp các châu lục. hầu như không một khu vực nào trên toàn cầu cho đến nay không có các tổ chức/thể chế khu vực của riêng mình. Các tổ chức/thể chế khu vực về chính trị-an ninh và đặc biệt là kinh tế, chiếm nhiều nhất. Chỉ riêng trong ngành kinh tế, tính đến giữa tháng 5/2011 có 489 hiệp định về mậu dịch khu vực (RTAs) giữa các thành viên của WTO đang được thông báo cho Ban Thư ký WTO, trong đó 90% là các thỏa thuận mậu dịch tự do (FTAs) và 10% là các liên minh thuế quan (CU). bên cạnh đó, có tới hàng trăm RTAs đang trong công cuộc đàm phán hoặc sẵn sàng đàm phán. Nhiều tổ chức/thể chế link kinh tế liên khu vực được tạo dựng, ví dụ như APEC, ASEM, ASEAN với các partners ngoài khu vực chẳng hạn giống như Mỹ và EU (dưới dạng các PCA và FTA), EU với một số tổ chức/thể chế hoặc quốc gia ở các khu vực khác, v.v…

Bên cạnh các mức độ toàn cầu và khu vực, công cuộc hội nhập giữa các nước còn được điều tiết bởi các hiệp định liên kết song phương, dưới dạng hiệp ước liên minh (chính trị, an ninh, quốc phòng), hiệp định partners toàn diện, hiệp định partner chiến lược, hiệp định kinh tế-thương mại (BFTA, BCU…). Từ cuối thập niên 1990 trở lại đây, khuynh hướng ký kết các hiệp định đối tác chiến lược và hiệp định mậu dịch tự do (BFTA) phát triển đặc biệt mạnh mẽ. Hầu hết các nước đều vừa mới ký hoặc đã trong công cuộc đàm phán các BFTA. Thậm chí, có nước hiện đang ký hoặc đàm phán tới hàng chục hiệp định BFTA (Singapore, Thái Lan, Nhật, Úc…). Điều này được giải thích chủ yếu bởi bế tắc của vòng đàm phán Đôha và những ưu điểm của BFTA so với các hiệp định đa phương (dễ đàm phán và nhanh đạt được hơn; việc thực hiện cũng thuận tiện hơn).

Về phạm vi ngành nghề và cấp độ hội nhập, xem xét các thỏa thuận liên kết khu vực và song phương trong thời gian Hiện nay, đủ sức thấy rất rõ rằng các lĩnh vực hội nhập ngày càng được xây dựng rộng hơn. Bên cạnh khuynh hướng đẩy mạnh hội nhập kinh tế, các nước cũng quan tâm thúc đẩy hội nhập trong các ngành nghề khác, đặc biệt là chính trị-an ninh và văn hóa-xã hội. tiến trình hội nhập toàn diện trong EU đang đạt đến mức cao, biến tổ chức này trở thành một thực thể gần như một nhà nước liên bang. ASEAN cũng đang tiến hành mở rộng và sử dụng sâu sắc tiến trình hội nhập khu vực một hướng dẫn toàn diện hơn thông qua xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột Cộng đồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội. Hàng loạt các hiệp định đối tác toàn diện hay partners kế hoạch song phương được ký kết gần đây bao quát khá toàn diện các ngành hợp tác và link giữa các bên. Nếu chỉ xét riêng về mặt kinh tế, thì các thỏa thuận Khoảng thời gian mới đây, chẳng hạn giống như Hiệp định Mậu dịch tự do ASEAN-Úc-Niudilân, Hiệp định Mậu dịch tự do Mỹ-Singapore, Hiệp định Mậu dịch tự do Hàn Quốc-Singapore, Hiệp định Mậu dịch tự do Nhật-Singapore, chứa đựng hầu hết các ngành và vì vậy vượt xa đối với các hiệp định FTA truyền thống. Quan sát chung, các hiệp định FTA mới toàn diện hơn và bao hàm cả những ngành “nhạy cảm” (ví dụ giống như mua sắm chính phủ, cạnh tranh, lao động, môi trường, hàng rào kỹ thuật) thường không được đề cập trong hầu hết các hiệp định FTA ký trước đó. bên cạnh đó, các hiệp định FTA mới đưa ra các quy định về tự do hóa triệt để hơn, thể hiện mức độ hội nhập cao hơn. gợi ý, trong lĩnh vực hàng hóa, tiết kiệm thuế quan mạnh hơn và sớm mang về 0%, giới hạn tối đa số lượng các hàng hóa loại trừ.

rạch ròi, hội nhập quốc tế vừa mới trở thành một xu thế to và một đặc trưng quan trọng của thế giới ngày nay. k ít người khẳng định rằng chúng ta vừa mới sống trong niên đại thế giới hóa. Nói một phương pháp không giống, thời đại hội nhập thế giới. Xu thế này chi phối toàn bộ liên kết quốc tế và sử dụng refresh to lớn cấu trúc của hệ thống toàn cầu cũng giống như bản thân các chủ thể và mối liên kết giữa chúng.

4. Lợi và bất lợi của hội nhập quốc tế

Khẳng định hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của toàn cầu cũng cùng lúc chỉ ra con đường tăng trưởng k thể nào khác so với các nước trong niên đại thế giới hóa là tham gia hội nhập quốc tế. Sự lựa chọn tất yếu này còn được quyết định bởi rất nhiều ích lợi mà hội nhập quốc tế xây dựng cho các nước. Dưới đây, xin nêu những quyền lợi chủ yếu của hội nhập quốc tế mà các nước đủ sức tận dụng được:

Thứ nhất, công cuộc hội nhập giúp xây dựng rộng phân khúc để thúc đẩy thương mại và các liên kết kinh tế quốc tế không giống, từ đó xúc tiến phát triển và tăng trưởng kinh tế-xã hội.

Thứ hai, hội nhập cũng tạo động lực xúc tiến dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các món hàng và doanh nghiệp; song song, làm tăng mức độ thu hút đầu tư vào nền kinh tế.

Thứ ba, hội nhập giúp nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nền khoa học công nghệ quốc gia, nhờ cộng tác giáo dục-đào tạo và tìm hiểu khoa học với các nước và tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến.

Thứ tư, hội nhập sử dụng tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận đối tượng quốc tế, gốc tín dụng và các partner quốc tế.

Thứ năm, hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các món hàng sản phẩm, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh; được tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có cơ hội phát triển và tìm tìm việc sử dụng cả ở trong lẫn ngoài nước.

Thứ sáu, hội nhập tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt hơn tình ảnh và xu thế tăng trưởng của thế giới, từ đó đủ sức đề ra chính sách tăng trưởng thêm vào cho quốc gia và k bị lề hóa.

Nguồn tổng hợp

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Phong Thủy

Leave a Comment